TP - Nhà thơ Hải Bằng là người xứ Huế rất vui tính, dễ tính, góc nào ông cũng có thể ngồi được, và trò chuyện say sưa đến nỗi không thể dứt ra được.
Nhà thơ Hải Bằng - Chàng lãng tử đất Thần Kinh
TP - Nhà thơ Hải Bằng là người xứ Huế rất vui tính, dễ tính, góc nào ông cũng có thể ngồi được, và trò chuyện say sưa đến nỗi không thể dứt ra được.
![]() |
| Nhà thơ Hải Bằng |
Một hôm, ông đến chơi nhà tôi, thấy tôi ở Hà Nội về, mua được chiếc mũ lưỡi trai bằng dạ tím rất đẹp, ông cầm lật đi lật lại trên tay, đội lên đầu ướm thử, soi gương khen đẹp và xin ngay: "Tau hí!".
Tưởng ông thích, tôi cho ông ngay. Nhưng lúc đưa ông ra ngoài cổng, cổng nhà tôi ở ngay bên sông An Cựu, bên bờ sông có ông già mặc áo phong phanh, một tay cầm vợt, một tay cầm gậy, chọc gậy, giơ vợt ra bắt cá, bắt ếch, thấy ông đầu trần, mà trời thì đang lạnh, không nói không rằng, Hải Bằng lật cái mũ vừa xin tôi, chụp ngay lên đầu ông già bắt cá: "Tui cho ông đó, đội cho khỏi lạnh". Ông già bắt cá ngơ ngác, chỉ biết ngỏ lời cảm ơn.
Tiễn ông Hải Bằng đi một đoạn nữa, tôi hỏi:
- Răng ông hay "Tau hí!" rứa. Gặp chi cũng xin, có rồi cũng xin.
Hải Bằng đáp:
- Ấy là tau nhắc nhở lòng nhân từ cho thiên hạ.
Tấm lòng của Hải Bằng là vậy đấy. Anh sống hết lòng với bạn bè không hề tính toán. Tôi nhớ khi ở vụ văn hóa, anh buộc phải nghỉ việc ở đây, được nhận một lúc một cục tiền là 30.000 đồng. Cầm tiền ra quán cà phê anh và bạn bè thường uống chịu, bạn bè thấy anh chịu chơi, nên thường tới quán này uống chịu luôn, lúc này có tiền cầm tay, anh gọi chủ quán tới để thanh toán.
Chủ quán cẩn thận lấy quyển sổ ghi nợ của anh và bạn bè nói:
- Tổng số tiền nợ của anh là 2 vạn đồng.
Không hề tính toán, không hề chi li, không hề vặn vẹo, Hải Bằng rút gói tiền 3 vạn mới nhận trả cho nhà hàng 2 vạn đồng. Một khoản tiền lớn, nhưng lòng Hải Bằng nhẹ tênh.
Hải Bằng là một nghệ sĩ tài ba. Ông thích vẽ, tạo hình rễ cây và làm thơ. Bạn bè thích có một bức chân dung, ông lấy giấy ra, chỉ đưa vài nét bút nhẹ nhàng tưởng như nguệch ngoạc, vậy mà đã có trong tay một bức chân dung.
Hải Bằng ghi tên người được vẽ tranh xuống ngay bên dưới. Lý lẽ của ông thật đơn giản: "Tên ghi ấy đã khẳng định bức tranh là ai, không thể lẫn được, vì có lúc mình vẽ không giống". Hải Bằng thường hay đùa thế, chứ ông đã vẽ ai, chỉ vài nét là nhận ra ngay.
Sau nghề vẽ, Hải Bằng rất thích chơi trò tạo hình bằng rễ cây. Những gốc sim, gốc mua, gốc khế, gốc tre, hễ gặp là hình như hút ngay hồn ông. Dù đang đi đâu, đang làm gì ông cũng dừng ngay lại, nhặt hết gốc cây này đến gốc cây khác, trở qua trở về ngắm nghía để xem nó sẽ là cái gì.
Những gốc ấy chỉ qua vài nhát đục của Hải Bằng ta sẽ nhận ngay ra đó là con sư tử, con hươu, con đại bàng, một bông hoa hay một cặp tình nhân đang tình tự.
Những tác phẩm rễ cây vừa ra đời ấy, Hải Bằng không bao giờ ra giá để bán, mà bạn bè ai thích là cho ngay.
Hải Bằng bao giờ cũng lấy niềm vui của bạn làm niềm vui của mình. Hải Bằng thường hay lý sự một cách bông phèng:
- Nghệ thuật là một cuộc chơi. Mà cuộc chơi thú vị nhất phải là có bạn, không thì tất cả đều vô vị.
Còn đối với nàng thơ, Hải Bằng theo nàng suốt cuộc đời không mệt mỏi, y như một chàng trai si tình. Thơ lúc nào cũng là một nỗi tương tư lớn.
Hải Bằng thường kể cho tôi nghe rằng thuở ấy đang còn tuổi đôi mươi, ông với bạn thân Tấn Hoài hai người, mỗi người làm một bài thơ trăm câu với đầu đề chung là "Trăm năm rừng cũ", rồi cho bài thơ ấy vào hũ sành chôn xuống giữa chiến khu Ba Lòng Quảng Trị. Các ông hy vọng một trăm năm sau, ai đó tình cờ đào đất lên, thấy lại hai bài thơ trong hũ sành như một cuộc khảo cổ thì chắc vui lắm.
Trong "Trăm năm rừng cũ" Tấn Hoài nhìn Hải Bằng đầy mơ mộng và khí phách:
"Mài đá suối tô màu lên vách núi
Vĩnh Tôn ơi, ta triển lãm với rừng"
Ngay từ lúc ấy thơ Hải Bằng đã thăm thẳm:
"Chiến khu ơi, sao trời thay lá biếc
Muôn mắt nhìn đau đáu quê hương
Con còn nợ mẹ già đêm tiễn biệt
Bóng tre quằn vẫy gọi đến tiền phương".
Tôi hỏi ông:
- Các ông đã bao giờ lên thăm hũ thơ chôn ở Ba Lòng chưa?
Ông đáp:
- Chúng mình muốn nó hóa thạch, khi nào có ai đào lên, sẽ nhớ lại một thời hào hùng nơi chiến khu này.
Hải Bằng đã làm tới 13 tập thơ. Có thể kể ra đây một số tập chính: "Hát về ngọn lửa" - 1980, "Trăng đợi trước thềm" - 1988, "Thơ tình Hải Bằng" - 1989, "Mưa Huế" - 1992, "Đề lên năm tháng" - 1995... và tập cuối cùng là "Độc hành" in năm 1998, ngay sau khi ông mất.
Hải Bằng rất nhậy về thơ, tôi nhớ cái năm cụm nhà văn miền Trung họp ở Đà Nẵng, nhà văn Nguyễn Chí Trung đi mua thực phẩm cho những ngày họp. Nguyễn Chí Trung giơ một con cá to trước mặt Hải Bằng:
- Cá mú đây, Hải Bằng thử làm một câu thơ xem nào.
Xung quanh Nguyễn Chí Trung và Hải Bằng toàn các chị em nhà bếp, lửa nóng, người nào cũng má đỏ môi hồng duyên dáng. Như không cần suy nghĩ, Hải Bằng hăng hái đọc ngay:
"Cá mú hay là cú má em"
Anh em ngồi xung quanh cười ồ, khen Hải Bằng đã rất nhậy cảm, tinh tế mà lại có tài nói lái nữa.
Chính cái lần tôi lang thang với ông Hải Bằng trong Thành Nội, lúc ấy có một con chim đang tha một sợi rác trên cành phượng la đà, Hải Bằng ứng khẩu đọc ngay:
"Hỏi chim tha rác trên cành phượng
Xây tổ hay là bỏ tổ đi".
Không chỉ nhanh nhậy mà Hải Bằng còn thật sâu sắc. Anh em Huế ngồi với nhau, mỗi khi nhắc đến Hải Bằng thường khen ông đã xuất khẩu một câu thơ đúng là ngôn tại thi ngoại:
"Con muỗi bay lên từ mặt nước ao nhà
Có dám nhận mình đã là bọ gậy".
Câu thơ giản dị mà nhắc mọi người đừng bao giờ quên quá khứ của mình.
Giai thoại về Hải Bằng cũng nhiều. Nhất là chuyện ngồi đâu Hải Bằng cũng đọc thơ cho nghe. Công nhận trí nhớ của Hải Bằng thật tốt. Trịnh Công Sơn chọc ông:
"Thứ nhất là sợ đau răng
Thứ nhì là sợ Hải Bằng đọc thơ".
Hải Bằng không hề tự ái, nghe bạn thơ chọc mình, Hải Bằng vỗ đùi khen:
- Hay! Hay!
Anh em quý Hải Bằng về tính vô tư ấy!
Hải Bằng yêu thơ yêu vẽ nhưng chính ông cũng gặp nạn về thơ về vẽ. Đó là thời ở chiến khu Ba Lòng. Trong chiến trận, bộ đội mình có bắt được một cô lính cứu thương người Pháp, đối xử với cô rất tử tế. Xúc động tình cảm ấy, Hải Bằng đã làm một bài thơ "Em nữ cứu thương người Pháp".
Trong thơ, Hải Bằng coi cô gái như một người bạn, và gọi cô là bạn. Bài thơ ấy, Hải Bằng gửi đến các tờ báo của mình, nhưng không một tờ báo nào dám in, vì cho rằng đó là một bài thơ không có lập trường rõ ràng, gọi kẻ thù là bạn.
Nhân đây cũng cần nói thêm thân phận Hải Bằng. Tên ông vốn là Vĩnh Tôn, gọi vua Hiệp Hòa là ông nội, Vĩnh Tôn vậy là thuộc dòng Tôn thất của nhà Nguyễn. Nói đến nhà Nguyễn, những người cực đoan thường xếp họ vào cái thùng: giai cấp phong kiến, và thế là gạch chéo.
Vậy nhưng Vĩnh Tôn đã thoát khỏi sự ràng buộc ấy, lấy độc lập tự do cho đất nước làm lý tưởng của mình, và ông đã trốn gia đình nhập vào Vệ quốc quân, dấn mình vào cuộc kháng chiến trường kỳ.
Bình thường thì thôi, nhưng hễ đụng vào lập trường tư tưởng là thế nào cũng lôi lý lịch ra. Và thế là mọi sự rắc rối ập tới.
Tuy nhiên theo suốt 9 năm kháng chiến, năm 1954 Vĩnh Tôn được chuyển ngành về Vụ Văn hóa đại chúng thuộc Bộ Văn hóa.
Đến mãi giai đoạn yên bình này, tác giả bài thơ "Em nữ cứu thương người Pháp" lại vẽ tranh châm biếm, như bức "Những người đẩy rùa" in trong báo "Trăm hoa". Và thế là tai họa lại ập đến Vĩnh Tôn. Vĩnh Tôn buộc phải thôi việc ở Vụ Văn hóa đại chúng, coi như cho ra khỏi ngành, và Vĩnh Tôn nhận một cục 3 vạn đồng như tôi đã kể ở trên vì Vĩnh Tôn bị quy là "nhân văn". Sau đó Vĩnh Tôn về làm ở Ty Văn hóa Quảng Bình.
Về Quảng Bình trong tình cảnh thất thế, Vĩnh Tôn mới đổi tên là Hải Bằng.
Để hiểu kỹ thân phận Hải Bằng, có lẽ cần đọc hai câu thơ của Phùng Quán làm để tặng Hải Bằng, Phùng Quán lấy tên của Hải Bằng để ví với thân phận con chim biển trong bão tố, chui vào bụi xương rồng:
"Thò ra e gió cuốn
Thụt vào ngại gai đâm".
Nhưng rất may về Quảng Bình, Hải Bằng lại có gia đình. Chị Chiến vợ anh đã đem đến cho Hải Bằng một gia đình yên ấm, có vậy mới thật "An cư lạc nghiệp", Hải Bằng đi tiếp con đường thơ của mình.
Chính có lẽ những trắc trở cuộc đời ấy, cho nên trong thơ ông đầy tâm trạng.
"Tôi chết một mình trong góc chiều mong đợi
Em sống một mình trong khói thuốc tôi bay
Vừa thấy em sau ngọn đèn le lói
Bỗng bên trời bão cuồn cuộn đến vây".
Nhưng chính tình yêu đã giữ cho Hải Bằng bình tĩnh lại:
"Tôi thì hoàng hôn
Em bình minh quá
Chỉ trách trời xanh không công bằng
Nắng gay gắt xả vào tôi giận dữ
Để ngực em tròn trịa những mùa trăng"
Phải là bạn bè mới thật yên lòng khi thấy Hải Bằng vui cười. Nhất là thấy Hải Bằng vui ngay chính thơ của mình:
"Mưa đi từ vườn em sang vườn anh
Mưa đi từ vườn anh ra cửa biển
Nước là tâm hồn theo mùa mưa di chuyển
Nên ngọn sóng cũng đội nón mà reo".
Ngày nhập tỉnh Bình - Trị - Thiên, Hải Bằng chính thức trở lại Huế. Người nào vào cũng thấy họ có nhà riêng, nhưng Hải Bằng cùng vợ con ở trong mấy gian nhà tập thể, chật chội.
Hải Bằng lơ ngơ hầu như không biết gì đến chuyện nhà cửa. Thời gian của ông là thời gian để làm thơ, tạo hình và vẽ vời cho mọi người. Chị Chiến đích thực là người vợ thảo hiền lo hết mọi việc nhà từ A đến Z. Chính vì vậy thơ Hải Bằng ngày một hay hơn.
Về Huế, Hải Bằng như gặp lại chính mình. Chính vì thế hai tập thơ "Mưa Huế", "Mưa lại về" gồm 203 bài ngan ngát chất Huế âm ỉ trong Hải Bằng, bây giờ được lúc bung ra.
Có những câu thơ đúng là Hải Bằng:
"Ai đã liệm mưa vào quan tài đưa mẹ ra đi
Giờ bước trong mưa mới hiểu thêm đời mẹ
Nếu không có mùa mưa xứ Huế
Thì mai sau con chẳng biết nắng là gì"
Xin nghe Hải Bằng tâm sự về thơ với mình:
"Trên bước đường đi vào làng Văn hóa, tôi không được may mắn như những nhà thơ đồng lứa. Sống chết với thơ nên chẳng mấy khi tôi được yên ổn. Nhờ không được yên ổn tôi mới có thơ. Tôi xem thơ như một cái gì đó rất quý đã bị mất đi. Phải trải qua bao khổ hạnh trăm bề mới tìm lại được. Khi tìm lại được đừng hòng mà mất.
Nghĩ đến thơ tôi không đầu hàng về tuổi già của mình. Tôi thường kết nghĩa với bạn bè trẻ. Ở họ tôi còn được hưởng thụ nhiều cái mới, cái phóng khoáng trong sáng tạo. Tôi rất ngại sự lẩm cẩm ở một số bạn thơ già". "Tôi mồ côi mẹ, vào đời gặp lắm chuyện buồn.
Nhiều khi tôi cảm thấy lẻ loi, đơn độc, dễ cảm xúc. Tôi đã nguyện trọn đời với thơ. Thơ đối với tôi như một niềm tin, như điểm chốt của tình yêu, như khoảng cách lâu năm chờ đợi trở về vĩnh viễn bên nhau".
Nói đến Hải Bằng không thể không nói tới một đặc tính rất Hải Bằng đó là tính thẳng thắn. Ruột ông thẳng như ruột ngựa. Những ai trung thực sống với ông rất dễ, còn những kẻ cơ hội, thường đau đầu đau óc với ông. Vì ông nói thẳng như một mũi dao chích thẳng vào tim họ.
Tôi nhớ một lần Hội Văn học Nghệ thuật Thừa Thiên Huế mời tất cả hội viên tới văn phòng hội để nghe nhà thơ Tố Hữu nói chuyện.
Nhà thơ lớn Tố Hữu nói chuyện thì ai mà không tới. Không tới nghe lắm khi còn sinh chuyện nữa.
Hôm ấy Tố Hữu nói rất nhiều chuyện. Nhân kể chuyện mình đi thăm chùa Hương trong mùa xuân vừa rồi, ông hào hứng nói:
- Kể ra ông Phật thật tốt. Giá tôi có quyền, tôi sẽ kết nạp ông Phật làm cảm tình Đảng.
Tố Hữu còn nói chuyện tiếp, nhưng nói xong câu tôi vừa kể lại trên, một số hội viên lục tục đứng dậy đi ra ngoài. Trong số những người ra ấy có Hải Bằng.
Hải Bằng bảo tôi:
- Ông Tố Hữu nói như vậy là không được.
Và Hải Bằng ra dắt xe đạp đi về.
Con người Hải Bằng là như thế, không quyền lực nào làm ông ngại ngần.
Hải Bằng thường tâm sự:
- Quân đội cho tôi nhiều vốn sống, rèn luyện cho tôi nhiều điều tốt đẹp. Những điều chắt lọc từ những năm trường kỳ kháng chiến tôi mang theo đến tận bây giờ.
Đúng như thế. Hải Bằng luôn luôn là một người lính chiến. Bất cứ lúc nào cũng sẵn sàng xả thân mình. Nhưng cái tình người thì bao giờ cũng sâu nặng, như "Trăm năm rừng cũ" của các anh đang nằm lại trên đất Ba Lòng:
"Uống nước Ba Lòng thương Thạch
Hãn
Ai đã ra đi lạnh chỗ nằm
Ta về chắp
lại vần thơ cũ
Tóc bạc không mờ chuyện tháng
năm".
Nguyễn Quang Hà
